Công cụ tính khoảng giá trị
Bậc thuế không phải là câu trả lời.
Con số mà khách hàng thường nhớ là mức thuế suất (bracket) của họ. Nhưng con số quyết định liệu việc chuyển đổi Roth, thu hoạch lợi nhuận hay một công việc bán thời gian có hợp lý hay không chính là mức thuế thực tế mà đồng đô la tiếp theo phải chi trả. Hai con số này thường không hề gần nhau. Đây là khoảng cách đó đối với khách hàng demo: 61 lần chạy thực tế cho toàn bộ tờ khai liên bang, mỗi lần cho mỗi một nghìn đô la tiền lương tăng thêm, mà không có bất kỳ ước tính nào ở giữa.
Thuế suất biên hiệu dụng trên một USD tiền lương tiếp theo
Khách hàng demo, kết hôn khai thuế chung, năm thuế 2024
- Thuế suất biên hiệu dụng
- Tổng gánh nặng thuế tính bằng USD
- Vị thế đã khai thuế
Bậc thuế thông thường của quý khách là 12%. Một đô la tiền lương tiếp theo sẽ bị đánh thuế ở mức 27%. Lý do là vì: khi một đô la đó được tính vào, nó kéo theo một đô la cổ tức và lãi dài hạn ra khỏi mức thuế suất 0%. Mức thuế thông thường 12% và mức thuế ưu đãi 15% cùng áp dụng cho một đô la đó.
Điều này áp dụng chính xác cho 22,000 USD, là khoảng trống còn lại trong khung thuế 0 phần trăm của họ, và sau đó mức thuế sẽ giảm xuống 22. Một khách hàng có thu nhập cao hơn có thể trả mức thuế thấp hơn cho đồng đô la tiếp theo so với cùng một khách hàng có thu nhập thấp hơn. Không có bảng thuế nào cho quý vị biết điều đó, và đây chính là sự khác biệt giữa tư vấn và tính toán số học.
Mỗi điểm là một lần chạy thực tế của toàn bộ tờ khai tại mức thu nhập đó, không phải là một đường cong được khớp giữa hai điểm. Một dự tính được tính toán theo các giả định đã nêu, không phải là một sự chắc chắn. Cách tính toán đằng sau vị thế đã nộp nằm ở trang công cụ.